🟢 Giới thiệu tổng quan 

  • Tên tiếng Phạn: Bodhisattvapiṭaka Dhāraṇī Sūtra 

  • Tên tiếng Trung: 地藏菩萨本愿经 (Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện Kinh) 

  • Nhân vật chính: Địa Tạng Bồ Tát (tiếng Phạn: Kṣitigarbha) — vị Bồ Tát đại nguyện, nổi tiếng với lời thề cứu độ chúng sinh nơi địa ngục. 

 

🌼 Nguồn gốc & truyền thừa 

  • Kinh này được cho là do Phật Thiện Tạng (Samantabhadra) truyền lại cho Địa Tạng Bồ Tát, rồi được ghi chép lại vào khoảng thế kỷ thứ 8 ở Ấn Độ. 

  • Sau đó, Kinh lan truyền rộng khắp các quốc gia Đại thừa: Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Việt Nam… 

 

📜 Bố cục chính 

Kinh Địa Tạng thường chia thành ba phần: 

✨ 1️⃣ Phần Bổn Nguyện 

  • Nội dung trọng tâm, tập trung nói về lời nguyện cứu độ chúng sinh của Địa Tạng Bồ Tát. 

  • Địa Tạng phát đại nguyện: 

“Địa ngục chưa trống, thề không thành Phật;  Chúng sinh độ tận, thề không chứng Bồ đề.” 

  • Ngài nguyện độ khắp chúng sinh trong sáu nẻo luân hồi, đặc biệt là những chúng sinh khổ đau ở địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh. 

✨ 2️⃣ Phần Đại Tạng 

  • Phân tích nghiệp duyên, nhân quả, tội phúc của con người. 

  • Mô tả chi tiết các hình phạt ở địa ngục, khuyến khích chúng sinh tu thiện, tránh ác, tin sâu nhân quả. 

✨ 3️⃣ Phần Hậu Tạng 

  • Đề cập đến lợi ích, phước đức của việc tụng, trì, chép Kinh Địa Tạng. 

  • Giải thích cách hồi hướng, cúng dường, và các cách thực hành trong cuộc sống hàng ngày. 

 

💡 Ý nghĩa và tinh thần chính 

  • Tôn vinh đại nguyện cứu độ: Địa Tạng được xem là biểu tượng của lòng từ bi vô tậnđại nguyện vô biên, luôn cứu giúp những người khổ đau nặng nề nhất. 

  • Khuyến thiện, tránh ác: Kinh nhấn mạnh luật nhân quả nghiêm minh, khuyên người đời tu sửa tâm tánh, giữ gìn đạo đức, hành thiện tích đức. 

  • Thực hành hiếu hạnh: Trong kinh có nhiều đoạn nhấn mạnh đạo hiếu, hiếu kính cha mẹ, tổ tiên, khuyến khích con cháu làm phước, hồi hướng cho người đã mất. 

  • Cầu an, cầu siêu: Kinh thường được tụng trong các lễ cầu siêu cho vong linh, cầu an cho gia đình, cầu bình an, cầu con, cầu sức khỏe. 

  • Gieo nhân giải thoát: Khi đọc, nghe, chép hoặc trì tụng Kinh Địa Tạng, người thực hành gieo trồng nhân duyên giải thoát cho chính mình và cho người khác. 

 

🕊 Ảnh hưởng & ứng dụng 

  • Kinh Địa Tạng được tôn kính rộng rãi trong sinh hoạt Phật giáo Đại thừa. 

  • Dùng để cầu siêu, cầu an, tụng trong lễ thất tuần (49 ngày) cho người mất, hay để cầu phước đức, tiêu trừ nghiệp chướng, an lạc gia đạo. 

  • Phát triển tâm từ bi, tăng trưởng tín tâm Tam Bảo, nhắc nhở con người ý thức sâu sắc về sinh tử và nghiệp báo. 

Kinh Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện không chỉ là một bản kinh tụng mà còn là bản đồ tâm linh giúp chúng ta hiểu sâu về nhân quả, nghiệp lực, sinh tử và phát khởi tâm đại bi. 

Ai phát tâm đọc, tụng, chép hoặc truyền bá kinh này đều đang cùng đi trên con đường cứu độ, mở lối giải thoát cho chính mình và muôn loài. 

Nam Mô Đại Nguyện Địa Tạng Vương Bồ Tát Ma Ha Tát! 🙏 

huong dan chep kinh dia tang

Chuẩn Bị Chép Kinh Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện

Chuẩn bị là một quá trình quan trọng và cần thiết để tạo ra một bản sao trang nghiêm và tôn kính. Chuẩn bị chép Kinh Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện không chỉ là việc chuẩn bị vật chất mà còn là quá trình chuẩn bị tinh thần, giúp bạn kết nối sâu sắc hơn với lời dạy của Đức Phật và Bồ tát Địa Tạng. Dưới đây là các bước cần thiết để chuẩn bị:

1. Lựa Chọn Bản Dịch Phù Hợp

Tìm kiếm và chọn lựa một bản dịch của Kinh Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện mà bạn cảm thấy dễ hiểu và gần gũi nhất với bạn.

2. Chuẩn Bị Dụng Cụ Chép Kinh

Giấy hoặc Sổ Tay.

Bút Viết: Chuẩn bị bút mực hoặc bút chì.

Hoặc chỉ cần giấy và bút hay một viên gạch phẳng và bút lông với nước sạch cũng được. Quan trọng là tấm lòng thành tâm.

3. Tạo Không Gian Tĩnh Lặng

Trong nhà hoặc tại một địa điểm tâm linh như chùa, miếu. Có thể trang trí bằng hoa tươi, hương thơm, và một bức ảnh hoặc tượng của Bồ tát Địa Tạng. Hoặc chỉ cần nơi yên tĩnh và trong lành là được.

Dành thời gian để thiền định hoặc đọc kệ trước khi bắt đầu, nhằm thanh lọc tâm trí và tạo tâm thế tôn kính.

4. Hiểu Rõ Ý Nghĩa

Trước khi chép, hãy đọc và nghiên cứu về ý nghĩa và lịch sử của Kinh Địa Tạng để hiểu sâu hơn về nội dung bạn sẽ chép.

5. Lập Kế Hoạch Chép Kinh

Lập kế hoạch cụ thể về thời gian bạn dành hàng ngày hoặc hàng tuần để chép kinh.

Tiến Độ Chép Kinh: Xác định mục tiêu về số trang hoặc số đoạn kinh bạn sẽ chép trong mỗi lần ngồi.

6. Chuẩn Bị Tâm Lý

Thiết Lập Mục Tiêu Tâm Linh: Xác định mục đích tâm linh và nguyện vọng của bạn qua việc chép kinh, như siêu độ vong linh, phát triển lòng từ bi, hoặc tăng cường kiến thức Phật pháp.

khong gian chep kinh

Tâm Thế Khi Chép Kinh Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện

1. Sự Kính Trọng và Tôn Nghiêm

Coi việc chép kinh như một hành động tôn giáo quan trọng, biểu hiện lòng kính trọng đối với Phật pháp.

Tạo không khí trang nghiêm khi chép kinh, biểu hiện qua cách sắp xếp không gian chép kinh và thái độ tôn kính.

2. Tâm Thế Thanh Tịnh và Chí Tâm

Trước khi chép, hãy thanh lọc tâm hồn bằng cách thiền định, tụng kệ, hoặc thực hiện các nghi thức tâm linh.

Phát nguyện với mục đích siêu độ cho chúng sinh, hồi hướng công đức đến người thân đã khuất, hoặc cầu nguyện cho hòa bình và hạnh phúc của thế giới.

3. Sự Tập Trung 

Dành sự tập trung toàn diện vào việc chép kinh, từng chữ một, để hiểu sâu ý nghĩa của từng lời dạy.

4. Suy Ngẫm và Áp Dụng

Suy ngẫm về ý nghĩa của từng lời dạy trong Kinh Địa Tạng và cách chúng liên quan đến cuộc sống hàng ngày.

Tìm cách áp dụng những bài học từ kinh vào cuộc sống thực, như việc thực hành lòng từ bi, sự kiên nhẫn và lòng vị tha.

5. Sự Kết Nối Tâm Linh

Cảm nhận một sự kết nối cá nhân với Bồ tát Địa Tạng và giáo lý của Ngài, qua đó phát triển một mối quan hệ tâm linh sâu sắc hơn.

Nuôi dưỡng tâm hướng về đại nguyện của Bồ tát Địa Tạng, tự nhắc nhở mình về sự quan trọng của lòng từ bi và sự hy sinh vì lợi ích của chúng sinh.

chi tam danh le

Chép Kinh Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện

1. Chép Kinh

Viết từng chữ một cách chính xác và rõ ràng, đặc biệt viết hoa tên danh hiệu Phật và Bồ Tát.

Đọc kỹ từng đoạn trước khi chép để hiểu rõ ý nghĩa của từng lời dạy.

Tập Trung Và Kiên Nhẫn: Duy trì sự tập trung và kiên nhẫn, không nên vội vàng hoặc xao lạc.

2. Suy Ngẫm và Áp Dụng

Suy ngẫm về ý nghĩa của từng lời dạy trong quá trình chép.

Tìm cách áp dụng những bài học từ Kinh Địa Tạng vào cuộc sống thực tế.

3. Kết Thúc Mỗi Phiên Chép Kinh

Sau mỗi lần chép, hãy kiểm tra lại để đảm bảo không có lỗi và sửa chữa nếu cần thiết.

Sau khi kết thúc mỗi phiên, cất giữ bản chép một cách cẩn thận và trang trọng.

huong dan chep kinh dia tang bo tat bon nguyen 1

Hồi Hướng Công Đức sau khi Chép Kinh Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện

Phát Nguyện Hồi Hướng

Phát nguyện hồi hướng công đức mà bạn đã tích lũy từ việc chép kinh đến cho tất cả chúng sinh.

Cầu nguyện cho vong linh của ông bà, cha mẹ, người thân đã khuất được siêu thoát và an lạc.

Cầu Nguyện Cho Sự An Lạc và Hạnh Phúc

Hồi hướng công đức để cầu nguyện cho hòa bình, sự an lành và hạnh phúc cho thế giới.

Cầu nguyện cho tất cả chúng sanh thoát khỏi khổ đau và đạt được giác ngộ.

Lan Tỏa Lợi Ích

Chia sẻ những hiểu biết và trải nghiệm của bạn trong quá trình chép kinh với người khác.

Khích lệ và hỗ trợ người khác trong hành trình tu tập và học hỏi Phật pháp.

hoi huong cong duc

Kinh Địa Tạng Bồ tát Bổn Nguyện (Quyển Thượng)

PHẨM THỨ NHẤT: THẦN THÔNG TRÊN CUNG TRỜI ĐAO LỢI 
 
PHẬT HIỆN THẦN THÔNG 
 
Ta nghe như thế này: Một thuở nọ, tại cung Trời Đao Lợi, đức Phật vì Thánh Mẫu mà thuyết pháp. 
 
Lúc đó, bất khả thuyết bất khả thuyết tất cả chư Phật và đại Bồ Tát trong vô lượng thế giới ở mười phương đều đến hội họp, rồi đồng khen ngợi rằng: 
 
Đức Phật Thích Ca Mâu Ni có thể ở trong đời ác ngũ trược mà hiện sức “Đại trí tuệ thần thông chẳng thể nghĩ bàn” để điều phục chúng sinh cang cường làm cho chúng nó rõ “Pháp khổ pháp vui”. 
 
Khen xong, chư Phật đều sai thị giả kính thăm đức Thế Tôn. 
 
Bấy giờ, đức Như Lai mỉm cười phóng ra trăm nghìn vừng mây sáng rỡ lớn. Như là: Vừng mây sáng rỡ đầy đủ, vừng mây sáng rỡ đại từ bi, vừng mây sáng rỡ đại trí huệ, vừng mây sáng rỡ đại Bát Nhã, vừng mây sáng rỡ đại Tam muội, vừng mây sáng rỡ đại kiết tường, vừng mây sáng rỡ đại phước đức, vừng mây sáng rỡ đại công đức, vừng mây sáng rỡ đại quy y, vừng mây sáng rỡ đại tán thán… Đức Phật phóng ra bất khả thuyết vừng mây sáng rỡ như thế rồi lại phát ra các thứ tiếng vi diệu. 
 
Như là: Tiếng Bố thí độ, tiếng Trì giới độ, tiếng Nhẫn nhục độ, tiếng Tinh tấn độ, tiếng Thiền định độ, tiếng Bát Nhã độ, tiếng Từ bi, tiếng Hỷ xả, tiếng Giải thoát, tiếng Vô lậu, tiếng Trí huệ, tiếng Sư tử hống, tiếng Đại Sư tử hống, tiếng Mây sấm, tiếng Mây sấm lớn… 
 
 
TRỜI RỒNG… HỘI HỌP 
 
Khi đức Phật phát ra bất khả thuyết bất khả thuyết tiếng vi diệu như thế xong, thời có vô lượng ức hàng Trời, Rồng, Quỷ, Thần ở trong cõi Ta Bà và cõi nước phương khác cũng đến hội họp nơi cung Trời Đao Lợi. 
 
Như là: Trời Tứ Thiên Vương, Trời Đao Lợi, Trời Tu Diệm Ma, Trời Đâu Suất Đà, Trời Hóa Lạc, Trời Tha Hóa Tự Tại, Trời Phạm Chúng, Trời Phạm Phụ, Trời Đại Phạm, Trời Thiểu Quang, Trời Vô Lượng Quang, Trời Quang Âm, Trời Thiểu Tịnh, Trời Vô Lượng Tịnh, Trời Biến Tịnh, Trời Phước Sanh, Trời Phước Ái, Trời Quảng Quả, Trời Nghiêm Sức, Trời Vô Lượng Nghiêm Sức, Trời Nghiêm Sức Quả Thiệt, Trời Vô Tưởng, Trời Vô Phiền, Trời Vô Nhiệt, Trời Thiện Kiến, Trời Thiện Hiện, Trời Sắc Cứu Cánh, Trời Ma Hê Thủ La, cho đến Trời Phi Tưởng, Phi Phi Tưởng Xứ. Tất cả Thiên chúng, Long chúng, cùng các chúng Quỷ, Thần đều đến hội họp. 
 
Lại có những vị Thần ở cõi Ta Bà cùng cõi nước phương khác, như: Thần biển, Thần sông, Thần rạch, Thần cây, Thần núi, Thần đất, Thần sông chằm, Thần lúa mạ, Thần chủ ngày, Thần chủ đêm, Thần hư không, Thần trên Trời, Thần chủ ăn uống, Thần cây cỏ… Các vị Thần như thế đều đến hội họp. 
 
Lại có những Đại Quỷ Vương ở cõi Ta Bà cùng cõi nước phương khác, như: Ác Mục Quỷ Vương, Đạm Huyết Quỷ Vương, Đạm Tinh Khí Quỷ Vương, Đạm Thai Noãn Quỷ Vương, Hành Bịnh Quỷ Vương, Nhiếp Độc Quỷ Vương, Từ Tâm Quỷ Vương, Phước Lợi Quỷ Vương, Đại Ái Kính Quỷ Vương… Các Quỷ Vương như thế đều đến hội họp. 
 
 
ĐỨC PHẬT PHÁT KHỞI 
 
Bấy giờ đức Thích Ca Mâu Ni Phật bảo Ngài Văn Thù Sư Lợi Pháp Vương tử đại Bồ Tát rằng: “Ông xem coi tất cả chư Phật, Bồ Tát và Trời, Rồng, Quỷ, Thần đó ở trong thế giới này cùng thế giới khác, ở trong quốc độ này cùng quốc độ khác, nay đều đến hội họp tại cung Trời Đao Lợi như thế, ông có biết số bao nhiêu chăng?”. 
 
Ngài Văn Thù Sư Lợi bạch Phật rằng: “Bạch đức Thế Tôn! Nếu dùng thần lực của con để tính đếm trong nghìn kiếp cũng không biết là số bao nhiêu!”. 
 
Đức Phật bảo Ngài Văn Thù Sư Lợi rằng: “Đến Ta dùng Phật nhãn xem hãy còn không đếm xiết! Số Thánh, phàm này đều của Ngài Địa Tạng Bồ Tát từ thuở kiếp lâu xa đến nay, hoặc đã độ, đương độ, chưa độ, hoặc đã thành tựu, đương thành tựu, chưa thành tựu”. 
 
Ngài Văn Thù Sư Lợi bạch đức Phật rằng: “Từ thuở lâu xa về trước con đã tu căn lành chứng đặng trí vô ngại, nghe lời đức Phật nói đó thời tin nhận liền. Còn hàng tiểu quả Thanh Văn, Trời, Rồng, tám bộ chúng và những chúng sanh trong đời sau, dầu nghe lời thành thật của Như Lai, nhưng chắc là sanh lòng nghi ngờ, dầu cho có lạy vâng đi nữa cũng chưa khỏi hủy báng. Cúi mong đức Thế Tôn nói rõ nhơn địa của Ngài Địa Tạng Bồ Tát; Ngài tu hạnh gì, lập nguyện gì mà thành tựu được sự không thể nghĩ bàn như thế?”. 
 
Đức Phật bảo Ngài Văn Thù Sư Lợi rằng: “Ví như bao nhiêu cỏ, cây, lùm, rừng, lúa, mè, tre, lau, đá, núi, bụi bặm trong cõi tam thiên đại thiên, cứ một vật làm một sông Hằng, rồi cứ số cát trong mỗi sông Hằng, một hột cát làm một cõi nước, rồi trong một cõi nước cứ một hột bụi nhỏ làm một kiếp, rồi bao nhiêu số bụi nhỏ chứa trong một kiếp đều đem làm kiếp cả. Từ lúc Ngài Địa Tạng Bồ Tát chứng quả thập địa Bồ Tát đến nay nghìn lần lâu hơn số kiếp tỉ dụ ở trên, huống là những thuở Ngài Địa Tạng còn ở bực Thanh Văn và Bích Chi Phật! 
 
 
Này Văn Thù Sư Lợi! Oai thần thệ nguyện của Bồ Tát đó không thể nghĩ bàn đến được. Về đời sau, nếu có trang thiện nam, người thiện nữ nào nghe danh tự của Địa Tạng Bồ Tát, hoặc khen ngợi, hoặc chiêm ngưỡng vái lạy, hoặc xưng danh hiệu, hoặc cúng dường, nhẫn đến vẽ, khắc, đắp, sơn hình tượng của Địa Tạng Bồ Tát, thời người đó sẽ được một trăm lần sanh lên cõi Trời Đao Lợi, vĩnh viễn chẳng còn bị sa đọa vào chốn ác đạo. 
 
 
TRƯỞNG GIẢ TỬ PHÁT NGUYỆN 
 
Này Văn Thù Sư Lợi! Trải qua bất khả thuyết bất khả thuyết kiếp lâu xa về trước, tiền thân của Ngài Địa Tạng Bồ Tát làm một vị Trưởng giả tử. Lúc đó, trong đời có đức Phật hiệu là: Sư Tử Phấn Tấn Cụ Túc Vạn Hạnh Như Lai. Trưởng giả tử thấy đức Phật tướng mạo tốt đẹp nghìn phước trang nghiêm, mới bạch hỏi đức Phật tu hạnh nguyện gì mà đặng tốt đẹp như thế? 
 
Khi ấy, đức Sư Tử Phấn Tấn Cụ Túc Vạn Hạnh Như Lai bảo Trưởng giả tử rằng: “Muốn chứng được thân tướng tốt đẹp này, cần phải trải qua trong một thời gian lâu xa độ thoát tất cả chúng sanh bị khốn khổ”. 
 
Này Văn Thù Sư Lợi! Trưởng giả tử nghe xong liền phát nguyện rằng: “Từ nay đến tột số chẳng thể kể xiết ở đời sau, tôi vì những chúng sanh tội khổ trong sáu đường mà giảng bày nhiều phương tiện làm cho chúng đó được giải thoát hết cả, rồi tự thân tôi mới chứng thành Phật Đạo”. 
 
Bởi ở trước đức Phật Sư Tử Phấn Tấn Cụ Túc Vạn Hạnh Như Lai, Ngài lập nguyện rộng đó, nên đến nay đã trải qua trăm nghìn muôn ức vô số bất khả thuyết kiếp, mà Ngài vẫn còn làm vị Bồ Tát! 
 
 
BÀ LA MÔN NỮ CỨU MẸ 
 
Lại thuở bất khả tư nghị vô số kiếp về trước, lúc đó có đức Phật hiệu là: Giác Hoa Định Tự Tại Vương Như Lai, Đức Phật ấy thọ đến bốn trăm nghìn muôn ức vô số kiếp. Trong thời tượng pháp, có một người con gái dòng Bà La Môn, người này nhiều đời chứa phước sâu dày, mọi người đều kính nể, khi đi đứng lúc nằm ngồi, chư Thiên thường theo hộ vệ. Bà mẹ của người mê tín tà đạo, thường khinh khi ngôi Tam Bảo. Thuở ấy, mặc dầu Thánh nữ đem nhiều lời phương tiện khuyên nhủ bà mẹ người, hầu làm cho bà mẹ người sanh chánh kiến, nhưng mà bà mẹ người chưa tin hẳn. Chẳng bao lâu bà ấy chết, thần hồn sa đọa vào Vô Gián địa ngục. 
 
Lúc đó, Thánh Nữ biết rằng người mẹ khi còn sống không tin nhân quả, liệu chắc phải theo nghiệp quấy mà sanh vào đường ác. Thánh Nữ bèn bán nhà, đất, sắm nhiều hương hoa cùng những đồ lễ cúng, rồi đem cúng dường tại các chùa tháp thờ đức Phật Giác Hoa Định Tự Tại Vương. Trong một ngôi chùa kia thấy hình tượng của đức Phật Giác Hoa Định Tự Tại Vương đắp vẽ oai dung đủ cách tôn nghiêm. 
 
Thánh Nữ chiêm bái tượng của đức Phật lại càng sanh lòng kính ngưỡng, tự nghĩ thầm rằng : “Đức Phật là đấng Đại Giác đủ tất cả trí huệ, nếu đức Phật còn trụ ở đời, thì khi mẹ tôi khuất, tôi đến bạch hỏi Phật, chắc thế nào cũng rõ mẹ tôi sanh vào chốn nào”. 
 
Nghĩ đến đó, Thánh Nữ buồn tủi rơi lệ chăm nhìn tượng Như Lai mà lòng quyến luyến mãi. 
 
Bỗng nghe trên hư không có tiếng bảo rằng: “Thánh Nữ đương khóc kia, thôi đừng có bi ai quá lắm! Nay ta sẽ bảo cho ngươi biết chỗ của mẹ ngươi”. 
 
Thánh Nữ chắp tay hướng lên hư không mà vái rằng: “Đức thần nào đó mà giải bớt lòng sầu lo của tôi như thế? Từ khi mẹ tôi mất đến nay, tôi thương nhớ ngày đêm, không biết đâu để hỏi cho rõ mẹ tôi thác sanh vào chốn nào?”. 
 
Trên hư không lại có tiếng bảo Thánh Nữ rằng: “Ta là đức Phật quá khứ Giác Hoa Định Tự Tại Vương Như Lai mà ngươi đương chiêm bái đó. Thấy ngươi thương nhớ mẹ trội hơn thường tình của chúng sanh nên ta đến chỉ bảo”. 
 
Thánh Nữ nghe nói xong liền té xỉu xuống, tay chân mình mẩy đều bị tổn thương. Những người đứng bên vội vàng đỡ dậy, một lát sau Thánh Nữ mới tỉnh lại rồi bạch cùng trên hư không rằng: “Cúi xin đức Phật xót thương bảo ngay cho rõ chỗ thác sanh của mẹ con, nay thân tâm của con sắp chết mất!”. 
 
Đức Giác Hoa Định Tự Tại Vương Như Lai bảo Thánh Nữ rằng: “Cúng dường xong, ngươi mau mau trở về nhà, rồi ngồi ngay thẳng nghĩ tưởng danh hiệu của Ta, thời ngươi sẽ biết chỗ thác sanh của mẹ ngươi”. 
 
Lễ Phật xong, Thánh Nữ liền trở về nhà. Vì thương nhớ mẹ, nên Thánh Nữ ngồi ngay thẳng niệm danh hiệu của Giác Hoa Định Tự Tại Vương Như Lai trải suốt một ngày một đêm, bỗng thấy thân mình đến một bờ biển kia. Nước trong biển đó sôi sùng sục, có rất nhiều thú dữ thân thể toàn bằng sắt bay nhảy trên mặt biển, chạy rảo bên này, xua đuổi bên kia. 
 
Thấy những trai cùng gái số nhiều đến nghìn muôn thoạt chìm thoạt nổi ở trong biển, bị các thú dữ giành nhau ăn thịt. 
 
Lại thấy Quỷ Dạ Xoa hình thù đều lạ lùng: Hoặc nhiều tay, nhiều mắt, nhiều chân, nhiều đầu… răng nanh chĩa ra ngoài miệng bén nhọn dường gươm, lùa những người tội gần thú dữ. Rồi Quỷ lại chụp bắt người tội, túm quắp đầu chân người tội lại, hình trạng muôn thứ chẳng dám nhìn lâu. 
 
Khi ấy, Thánh Nữ nhờ nương sức niệm Phật nên tự nhiên không kinh sợ. 
 
Có một Quỷ Vương tên là Vô Độc, đến cúi đầu nghinh tiếp, hỏi Thánh Nữ rằng: “Hay thay Bồ Tát! Ngài có duyên sự gì đến chốn này?”. 
 
Thánh Nữ hỏi Quỷ Vương rằng: “Đây là chốn nào?”. 
 
Quỷ Vương Vô Độc đáp rằng: “Đây là từng biển thứ nhứt ở phía Tây núi đại Thiết Vi”. 
 
Thánh Nữ hỏi rằng: “Tôi nghe trong núi Thiết Vi có địa ngục, việc ấy có thiệt như thế chăng?”. 
 
Vô Độc đáp rằng: “Thiệt có địa ngục”. 
 
Thánh Nữ hỏi rằng: “Nay tôi làm sao để được đến chốn địa ngục đó?”. 
 
Vô Độc đáp rằng: “Nếu không phải sức oai thần, cần phải do nghiệp lực. Ngoài hai điều này ra ắt không bao giờ có thể đến đó được”. 
 
Thánh Nữ lại hỏi: “Duyên cớ vì sao mà nước trong biển này sôi sùng sục như thế, và có những người tội cùng với các thú dữ?”. 
 
Vô Độc đáp rằng: “Những người tội trong biển này là những kẻ tạo ác ở cõi Diêm Phù Đề mới chết, trong khoảng bốn mươi chín ngày không người kế tự để làm công đức hầu cứu vớt khổ nạn cho; lúc sống, kẻ đó lại không làm được nhân lành nào cả. 
 
Vì thế nên cứ theo nghiệp ác của họ đã gây tạo mà cảm lấy báo khổ ở địa ngục, tự nhiên họ phải lội qua biển này. 
 
Cách biển này mười muôn do tuần về phía Đông lại có một cái biển, những sự thống khổ trong biển đó gắp bội hơn biển này. 
 
Phía Đông của biển đó lại có một cái biển nữa, sự thống khổ trong đó càng trội hơn. 
 
Đó đều là do những nghiệp nhân xấu xa của ba nghiệp mà cảm vời ra, đồng gọi là biển nghiệp, chính là ba cái biển này vậy”. 
 
Thánh Nữ lại hỏi Quỷ Vương Vô Độc rằng: “Địa ngục ở đâu?”. 
 
Vô Độc đáp rằng: “Trong ba cái biển đó đều là địa ngục, nhiều đến số trăm nghìn, mỗi ngục đều khác nhau. Về địa ngục lớn thời có 18 chỗ, bậc kế đó có 500 chỗ đủ không lường sự khổ sở, bậc kế nữa có đến nghìn trăm cũng đầy không lường sự thống khổ”. 
 
Thánh Nữ lại hỏi Quỷ Vương rằng: “Thân Mẫu của tôi mới khuất gần đây, không rõ thần hồn của người phải sa vào chốn nào?”. 
 
Quỷ Vương hỏi Thánh Nữ rằng: “Thân mẫu của Bồ Tát khi còn sống, quen làm những nghiệp gì?”. 
 
Thánh Nữ đáp rằng: “Thân mẫu của tôi mê tín tà đạo, khinh chê ngôi Tam Bảo, hoặc có lúc tạm thời tin chánh pháp, xong rồi chẳng kính. Dầu khuất không bao lâu, mà chưa rõ đọa lạc vào đâu?”. 
 
Vô Độc hỏi rằng: “Thân mẫu của Bồ Tát tên họ là gì?”. 
 
Thánh Nữ đáp rằng: “Thân phụ và thân mẫu của tôi đều dòng dõi Bà La Môn. Thân phụ tôi hiệu là Thi La Thiện Kiến. Thân mẫu tôi hiệu là Duyệt Đế Lợi”. 
 
Vô Độc chắp tay thưa Thánh Nữ rằng: “Xin Thánh Nữ hãy trở về, chớ đem lòng thương nhớ buồn rầu quá lắm nữa. Tội nữ Duyệt Đế Lợi được sanh lên cõi Trời đến nay đã ba ngày rồi. 
 
Nghe nói nhờ con gái của người có lòng hiếu thuận, vì mẹ mà sắm sửa lễ vật, tu tạo phước lành, cúng dường chùa tháp, thờ đức Giác Hoa Định Tự Tại Vương Như Lai. Chẳng phải chỉ riêng thân mẫu của Bồ Tát đặng thoát khỏi địa ngục, mà ngày đó, những tội nhân Vô Gián cũng đều được vui vẻ, đồng đặng thác sanh cả”. 
 
Nói xong, Quỷ Vương chắp tay chào Thánh Nữ mà cáo lui. 
 
Bấy giờ, Thánh Nữ dường chiêm bao chợt tỉnh, rõ biết việc đó rồi, bèn đối trước tháp tượng của đức Giác Hoa Định Tự Tại Vương Như Lai mà phát thệ nguyện rộng lớn rằng: 
 
“Tôi nguyện từ nay nhẫn đến đời vị lai những chúng sanh mắc phải tội khổ, thì tôi lập ra nhiều phương chước làm cho chúng đó được giải thoát”. 
 
Đức Phật bảo Ngài Văn Thù Sư Lợi rằng: “Quỷ Vương Vô Độc trước đó nay chính là ông Tài Thủ Bồ Tát. Còn Thánh Nữ Bà La Môn đó, nay là Địa Tạng Bồ Tát vậy”. 
 
Xem thêm: Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh 

Tóm tắt Kinh Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện theo từng phẩm 

  • Phẩm thứ nhất: Thần Thông trên cung Trời Đao Lợi 

  • Tóm tắt: Đức Phật Thích Ca Mâu Ni hiện thần thông ở cõi Trời Đao Lợi để thuyết pháp cho Mẹ (Phật Mẫu). Chư Phật và Bồ Tát tại mười phương đều đến tán thán công đức của Ngài. Phật phóng hào quang và tiếng diệu bảo rằng Địa Tạng Bồ Tát đã thệ nguyện vĩ đại: hàng ngàn ức kiếp tu khổ hạnh cứu độ hết mọi chúng sinh. Nghe vậy, Đại Bồ Tát Văn Thù hỏi Phật về cơ duyên và thệ nguyện của Địa Tạng. Phật dẫn chuyện quá khứ: Trước kia Địa Tạng từng làm một Trưởng giả phát nguyện cứu độ chúng sinh vô lượng rồi mới chứng quả (tương ứng với Địa Tạng ngày nay). Tiếp đó, Phật kể chuyện Bà-la-môn nữ phóng sanh cứu mẹ, qua đó tán thán lòng hiếu hạnh và cho biết Bà-la-môn nữ ấy chính là Địa Tạng trong tiền kiếp (sau khi đức Như Lai Giác Hoa-Định-Tự-Tại Vương hóa hiện). 

  • Nhân vật, biểu tượng chính: Phật Thích Ca, Phật Mẫu (Ma-đề-đa), chư Phật, Bồ Tát (Văn Thù, Phổ Quang v.v.), Bà-la-môn nữ (tiền thân Địa Tạng), Quỉ Vương Vô-Độc (tiền thân Bồ Tát Tài Thủ). 

  • Bài học: Truyền đạt tinh thần đại nguyện độ sinh của Địa Tạng: làm việc thiện, hiếu hạnh, niệm Phật và thờ phụng tượng Phật giúp thoát khổ, nhận ra duyên nhân sinh tử luân hồi; khuyên người cần kiên trì tu dưỡng, phát nguyện cứu độ chúng sinh như Địa Tạng, đạt được phước đức lớn lao. 

  • Phẩm thứ hai: Phân Thân Tập Hội 

  • Tóm tắt: Tăng già mười phương và hết thảy chúng sinh độ thoát đều về cung Trời Đao Lợi theo các hóa thân của Địa Tạng để ca ngợi công đức. Đức Thích Ca giảng dạy rằng Ngài hay hiện thân vô số hóa thân trai, gái, trời, rồng, quỷ, Thần… để “độ thoát những hạng chúng sinh mỗi mỗi sai khác”. Địa Tạng các hóa thân tập trung về một, bạch lại lên đức Phật lời thệ nguyện cứu độ chúng sinh khắp mười phương và nói rằng mỗi hóa thân có thể hóa độ trăm nghìn ức người ta và cho biết những phước báo lớn khi nghe danh, lễ lạy, dựng tượng Địa Tạng. Đức Phật khen và cam kết sau khi cứu độ xong tất cả, Địa Tạng sẽ thành Phật. 

  • Nhân vật, biểu tượng chính: Đức Phật Thích Ca, Địa Tạng Bồ Tát cùng các hóa thân của Ngài, Bồ Tát Văn-Thù, Phổ Quang v.v., chư Thiên, Long, Quỷ, Thần. 

  • Bài học: Nêu bật lòng đại từ đại bi và phương tiện thiện xảo của chư Phật và Địa Tạng: nguyện hoá độ vô lượng chúng sinh sai khác. Tín tâm, lễ lạy, trì tụng danh hiệu Địa Tạng mang lại công đức lớn, giúp chúng sinh thoát khổ trong nhiều kiếp; khích lệ người đời tin theo gương đại nguyện đó. 

  • Phẩm thứ ba: Quán Chúng Sanh Nghiệp Duyên 

  • Tóm tắt: Phật Mẫu (Ma-đề-đa Phu-nhơn) hỏi Địa Tạng về nhân quả của chúng sinh: Địa Tạng nói rằng nghiệp tạo khổ lạc trong các cõi và các đời là rất khác nhau tùy nơi có địa ngục hay không, có Phật pháp hay không. Bà hỏi cụ thể về báo quả ở cõi Ta-bà. Địa Tạng liệt kê những trọng tội như bất hiếu giết cha mẹ, khinh chê Phật, làm hại Tăng chúng, trộm cắp, dâm dục v.v., đều phải đọa vào địa ngục Vô Gián vô số kiếp. Bà tiếp tục hỏi Vô Gián là gì, Địa Tạng mô tả: ngục Vô Gián đồ sộ, thành xây bằng sắt nóng (dài vạn dặm, tường cao ngàn dặm), lửa cháy sáng khắp, bên trong chất đầy hàng ngàn người tù, ai cũng chịu thống khổ khôn cùng; tiếp đó nêu năm đặc điểm “Vô Gián” là khổ (không hề ngưng, đầy ngục, thiết bị tra tấn, không phân biệt địa vị, chết-lặp-đời liên miên). 

  • Nhân vật, biểu tượng chính: Địa Tạng Bồ Tát, Phật Mẫu Ma-đề-đa. 

  • Bài học: Phẩm này nhấn mạnh luật nhân quả nghiêm minh: các hành vi trọng đại gây ra quả báo đọa địa ngục khổ nhục tột cùng. Cảnh báo về hậu quả kinh khủng của việc báng Phật, phụ mẫu, hủy phá giới luật v.v. nhằm khuyến thiện tránh ác. Đồng thời, trả lời thắc mắc của Phật Mẫu, ca ngợi sức mạnh cứu độ của Địa Tạng. 

  • Phẩm thứ tư: Nghiệp Cảm của Chúng Sanh 

  • Tóm tắt: Địa Tạng xin thọ trì oai lực của đức Phật để cứu độ chúng sinh; Phật dạy rằng chúng sinh chưa giải thoát do tâm tà ác mà sinh bao nghiệp xấu (ví như cá mắc lưới giăng, muốn thoát mà chịu dây dưa tiếp tục). Địa Tạng và Phổ Quảng Bồ Tát đều ngợi khen và hỏi về nguyên nhân Địa Tạng được ca ngợi: Định Tự Tại vương (có lẽ là Phổ Hiền) hỏi Phật về đại nguyện của Địa Tạng. Đức Phật thuật chuyện quá khứ: Vào vô lượng kiếp trước có một Phật (Nhứt Thiết Trí Thành Tựu Như Lai) vốn là một vị vua và kết bạn với vua láng giềng. Hai vị vua cùng tu thiện, nhưng dân láng giềng còn nhiều tội ác. Một vị (có thần lực lớn) nguyện thành Phật sớm để cứu họ; vị kia (tương ưng Địa Tạng) nguyện: nếu chưa cứu độ hết chúng sinh khổ đau thì nguyện không thành Phật. Phật kết luận người nguyện cứu độ tận cùng chính là Địa Tạng Bồ Tát; người nguyện nhanh thành Phật là Phật Nhứt Thiết Trí (tức Thích Ca). 

  • Nhân vật, biểu tượng chính: Địa Tạng Bồ Tát, Đức Phật, Phổ Hiền (Định Tự Tại vương), hai vị vua tiền kiếp của Phật và Địa Tạng. 

  • Bài học: Giới thiệu tiền duyên của Địa Tạng: đại nguyện cứu độ chúng sinh là trái tim của Địa Tạng Bồ Tát. Tinh thần đại bi không quản lao nhọc, sẵn sàng chờ lâu để cứu độ chúng sinh. Khuyến khích người phát khởi tâm nguyện từ bi cứu khổ như Ngài. 

  • Phẩm thứ năm: Danh hiệu của Địa Ngục 

  • Tóm tắt: Phổ Hiền Bồ Tát đề nghị Địa Tạng nêu tên các địa ngục ở cõi Ta-bà để chúng sinh đời mạt pháp có thể biết rõ quả báo do tội khổ. Địa Tạng, nhờ oai lực Phật, liệt kê hàng loạt địa ngục khủng khiếp ở phương Đông (gồm cụm núi Thiết Vi): Cực Vô Gián, Đại A Tỳ, Tứ Giác, Phi Đao, Hỏa Tiễn, Giáp Sơn, Thông Thương, Thiết Xa, Thiết Sàng, Thiết Ngưu, Thiết Y, Thiên Nhẫn, Thiết Lư, Dương Đồng, Bảo Trụ, Lưu Hỏa, Canh Thiệt, Tỏa Thủ, Thiêu Cước, Đạm Nhãn, Thiết Hoàn, Tránh Luận, Thiết Thù, Đa Sân… (cùng các ngục phụ danh khác). Rồi ngầm ngùi kể tiếp loạt địa ngục “Hỏa” như Hỏa Sơn, Hỏa Ngưu, Hỏa Thạch, v.v., mỗi ngục lớn có cả trăm ngục nhỏ. Địa Tạng khẳng định mọi ngục ấy là do nghiệp báo của chúng sinh mà hiện ra, nhấn mạnh nghiệp lực vô cùng nặng nề, lớn như núi Tu-di, sâu như biển cả. 

  • Nhân vật, biểu tượng chính: Địa Tạng Bồ Tát, Phổ Hiền Bồ Tát. 

  • Bài học: Mô tả chi tiết các địa ngục (nhất là Vô Gián – địa ngục không gián đoạn) và tính chất khổ não của chúng để cảnh tỉnh, giáo hóa chúng sinh đời sau biết tránh ác làm lành. Địa Tạng cho thấy nghiệp lực khủng khiếp dẫn đến ác đạo, khuyến khích người nghe tu hành để không lâm vào khổ cảnh ấy. 

  • Phẩm thứ sáu: Như Lai Tán Thán Oai Đức của Ngài Địa Tạng 

  • Tóm tắt: Đức Thích Ca phóng ánh quang hồng cùng tiếng diệu khen ngợi công đức và oai lực vô biên của Địa Tạng Bồ Tát vì “sức từ bi cứu giúp tất cả tội khổ chúng sinh”. Bấy giờ Phổ Quảng Bồ Tát đề nghị Phật tuyên dương lợi ích Địa Tạng đến trời người đời sau. Đạo Phật Thích Ca dạy rằng bất cứ người nào nghe, niệm, lễ lạy, ca tụng danh hiệu Địa Tạng dù chỉ một lần cũng “được qua khỏi tội khổ trong ba mươi kiếp”. Nếu vẽ, đắp tượng Địa Tạng rồi lễ lạy một lần, người đó sẽ “sanh lên cõi Trời Đao Lợi một trăm lần, không còn bị đọa ác đạo nữa”. Bà Phạm và các thiện nam tín nữ cúng dường vật liệu cúng sao, “thọ một thân gái xong, đến hàng trăm nghìn kiếp còn không sanh vào cõi có nữ”. 

  • Nhân vật, biểu tượng chính: Đức Phật Thích Ca, Địa Tạng Bồ Tát, Phổ Quảng Bồ Tát, một vị Đại Bồ Tát khác trong chúng (được Phật xướng tên), thiện nam tín nữ. 

  • Bài học: Nhấn mạnh công đức của việc tôn kính Địa Tạng: nghe, niệm danh hiệu hoặc tạo tượng chiêm lễ Địa Tạng sẽ được giải thoát tội báo và vãng sanh cõi lành. Đề cao hành động cúng dường, niệm danh Địa Tạng giúp hóa giải nghiệp chướng, đổi khổ thành an. 

  • Phẩm thứ bảy: Lợi Ích Cả Kẻ Còn Người Mất 

  • Tóm tắt: Địa Tạng thỉnh Phật chỉ dạy cách giúp thân quyến người sắp qua đời và người đã chết. Ngài ví giòng đời chúng sinh như người mang đá nặng trong bùn – nghiệp chướng càng ngày càng chồng chất. Khi được giúp đỡ, hãy tránh trở lại vũng bùn cũ. Khi một chúng sinh đời trước quen làm điều ác sắp mạng chung, thân bằng quyến thuộc nên tạo phước (treo rèm lễ, thắp đèn, đọc kinh, cúng dường tượng Phật) ngay bên giường người chết, để “một danh hiệu thấu vào lỗ tai” hoặc vọng đến tâm thức người ấy. Nhờ đó, hết thảy nghiệp xấu của người ấy tiêu trừ, người chết sẽ được siêu thoát (khỏi ác đạo, sinh cõi Trời hoặc hưởng nhân lành). Ngược lại, nếu thân nhân làm điều ác hoặc cúng tế hại người chết, chẳng lợi ích gì, chỉ thêm ác nghiệp cho họ. Địa Tạng khuyên mọi người (trời, người) trong lúc lâm chung nên “cẩn thận đừng gây nghiệp ác, cũng đừng tế lễ quỷ thần”, vì chỉ làm tăng tội cho người sắp qua đời. Phẩm kết thúc với cảnh báo: ngay cả người đã từng tu tập thánh quả nếu bị quyến thuộc tạo nghiệp xấu lúc lâm chung thì cũng bị trục trễ vãng sanh thiện cảnh. 

  • Nhân vật, biểu tượng chính: Địa Tạng Bồ Tát, đức Phật Thích Ca, thân quyến người sắp mất, thiện nam tín nữ. 

  • Bài học: Hướng dẫn thực hành đạo đức lúc lâm chung: khuyên thân nhân làm lành, niệm Phật, đọc kinh cho kẻ chết để “cứu” họ khỏi đọa ác đạo, và cấm tế lễ hại người chết. Nhấn mạnh nhân quả sinh tử rõ ràng, lòng hiếu và hành hiếu với người sắp chết giúp giải thoát họ khỏi địa ngục. 

  • Phẩm thứ tám: Các Vua Diêm La Khen Ngợi 

  • Tóm tắt: Các vị Quỷ Vương ở núi Thiết Vi (Địa Ngục) cùng Vua Diêm La lên cung Trời Đao Lợi báo yết đức Phật. Vua Diêm La quỳ tạ Phật, bạch thắc mắc: Địa Tạng Bồ Tát có thần thông không thể nghĩ bàn để cứu chúng sinh khổ não, thế mà chúng sinh vừa thoát tội khổ thì lại sớm đọa lạc, không chịu đi theo chánh đạo. Tại sao như vậy?. Phật đáp: vì chúng sinh ở thế gian này ngu si cố chấp quá, ít có người bền chí tu hành nên Địa Tạng mới phải hoá thân vô lượng kiếp để giáo hoá (sẽ tiếp tục đến khi Phật Di Lặc xuất hiện). 

  • Nhân vật, biểu tượng chính: Vua Diêm La, các Đại Quỷ Vương (Ác-Độc, Đa-Ác, Bạch-Hổ, Xích-Hổ, v.v. cùng trăm ngàn Quỷ Vương nhỏ), đức Phật Thích Ca, Địa Tạng Bồ Tát. 

  • Bài học: Phật dạy rằng vì lòng cố chấp của chúng sinh (dễ theo ác, mau bỏ thiện), Địa Tạng phải dùng vô lượng phương tiện để cứu độ. Cảnh báo về bản tính khó hóa của con người khiến Bồ Tát phải liên tục từ bi giáo hóa, khuyên người cần nương tựa Đạo, kiên trì chánh pháp. 

  • Phẩm thứ chín: Xưng Danh Hiệu Chư Phật 

  • Tóm tắt: Địa Tạng xin báo lợi ích cho chúng sinh về việc xưng niệm danh hiệu chư Phật. Phật đồng ý và thúc giục Địa Tạng tuyên dương. Địa Tạng liệt kê nhiều vị Phật quá khứ với công đức vĩ đại, kèm theo phúc báo cho kẻ nghe danh hiệu: Chẳng hạn, người nghe danh hiệu Phật “Vô Biên Thân Như Lai” liền tiêu trừ tội nặng trong 40 kiếp (hãy thử nghĩ, nếu vẽ tượng và lễ thì còn trúng phước lợi vô lượng); nghe tên Phật “Bảo Thắng Như Lai” phát tâm quy y một giây thì vững không thối chuyển trên đạo Phật; nghe tên Phật “Ba Đầu Ma Thắng Như Lai” một lần phát nguyện xưng niệm thì được 1.000 lần sanh về cõi Trời Đâu-Suất-Đà (Dục giới); nghe tên Phật “Sư Tử Hống Như Lai” một niệm phát tâm quy y thì sẽ gặp vô lượng Phật thọ ký làm Đế Chế Thiên (chư Phật thế giới cực thịnh); nghe tên Phật “Câu Lưu Tôn Như Lai” chí tâm lễ bái thì trong vô lượng kiếp làm Đại Phạm Thiên, được Phật thọ ký; nghe tên Phật “Tỳ Bà Thi Như Lai” thì chẳng bao giờ đọa ác đạo, lúc nào cũng sanh lên cõi người hoặc Trời hưởng thù thắng an vui; v.v. (Còn tiếp danh hiệu nhiều vị Phật khác). 

  • Nhân vật, biểu tượng chính: Địa Tạng Bồ Tát, chư Phật quá khứ (Vô Biên Thân, Bảo Thắng, Ba Đầu Ma Thắng, Sư Tử Hống, Câu Lưu Tôn, Tỳ Bà Thi, Đa Bửu, v.v.). 

  • Bài học: Ca ngợi công đức niệm danh hiệu chư Phật. Việc xưng niệm, lễ bái danh hiệu Phật có thể xóa tội rất lâu, mang lại sanh thiên, thành đạo. Khuyến khích tín tâm hướng đến Tam bảo qua việc niệm Phật, tôn tượng Phật, tạo duyên lành phước đức cực lớn. 

  • Phẩm thứ mười: So sánh nhân duyên công đức của sự bố thí 

  • Tóm tắt: Địa Tạng thắc mắc vì sao người cho đi (bố thí) thì hưởng phước báo khác nhau nhiều: kẻ chỉ hưởng một đời, kẻ đến trăm đời. Phật giải thích: Nếu các bậc Vua, quan, trưởng giả vĩ đại từ tâm đưa của cải đến những kẻ nghèo cùng cùng khổ tật nguyền (câm điếc mù) một cách khiêm cung và tận tâm, thì công đức ấy lớn như cúng dường cho một trăm hàng hà sa chư Phật. Nhờ đại bi cứu khổ nên phước báo của người ấy kéo dài trăm nghìn đời (đầy đủ bảo vật, y phục…). Phật cũng nêu gương cho đời sau: nếu vị Quốc Vương hay trưởng giả phát tâm khôi phục chùa tháp, đắp tượng Phật-Bồ Tát (tự tay cúng dường), sau khi hết phước trời cũng thành Đế Thích hưởng vui lâu dài (cõi Trời Hóa Lạc); nếu thêm hồi hướng công đức khắp pháp giới, sẽ làm Đế Thích trong mười đời. Phật chỉ ra: việc gìn giữ Di tích Phật (tu bổ chùa, sửa kinh tượng bị hư…) cũng tạo phước to lớn. 

  • Nhân vật, biểu tượng chính: Phật Thích Ca, Địa Tạng Bồ Tát, các quốc vương, trưởng giả, cư sĩ phát tâm cúng dường chùa chiền, tượng Phật. 

  • Bài học: Thể hiện tầm quan trọng của bố thí: phát tâm đại bi giúp người nghèo khổ mang lại công đức vô lượng. Cụ thể khuyên phụng sự Tam Bảo: cúng dường chư Phật/Bồ Tát, xây dựng tịnh xá, tu bổ chùa tháp, hồi hướng phước đức – tất cả đều tạo phúc báo lớn, nhiều đời làm trời hưởng thụ an lạc. 

  • Phẩm thứ mười một: Địa Thần Hộ Pháp 

  • Tóm tắt: Kiên Lao Địa Thần (thần đất) đảnh lễ Phật và tán thán Địa Tạng: so với Văn-Thù, Phổ-Hiền, Quan-Thế-Âm, Mạt-Liên v.v. từng hiến thân vô số đời, thì thệ nguyện Địa Tạng còn thâm sâu hơn (giáo hóa khắp chúng sinh sáu đường trong vô lượng kiếp). Địa Thần nói: nếu ở phương Nam thuần thiện (xứ sở thánh thiện), có người khởi tâm dựng miếu, vẽ tượng Địa Tạng bằng vật liệu tốt và dâng hoa hương cúng dường, tưởng niệm ngợi khen, họ sẽ được mười lợi ích: đất nhà tốt màu mỡ, nhà cửa yên ổn, người chết được sanh cõi Trời, người sống hưởng lợi ích lâu dài, cầu gì được nấy, tránh họa nước lửa, không hao tài, hết mê mộng, được hộ thần kèm bên, thường gặp thiện nhân…. Địa Thần thêm: nếu người đời sau có kinh Địa Tạng và tượng Bồ Tát, đọc tụng và cúng dường, thì Địa Thần nhất định hộ vệ khỏi mọi tai họa (nước, lửa, trộm cướp…). Phật khen Ngài Địa Thần vì thần lực to lớn giúp hoá giải tai họa (đại địa tạng thiên vương). 

  • Nhân vật, biểu tượng chính: Kiên Lao Địa Thần (thần Địa phủ phương Nam), đức Phật Thích Ca, Địa Tạng Bồ Tát. 

  • Bài học: Khuyến khích phụng thờ Địa Tạng: xây dựng đền thờ, tạc tượng Địa Tạng, trì tụng kinh điển của Ngài sẽ được 10 điều lợi ích (an cư, hết điều ác, gia đình bình an, tiếp cận Thánh nhân…); Địa Thần bảo hộ những ai giữ kinh và hình tượng Địa Tạng khỏi tai kiếp. Nhấn mạnh hành động sùng tín, trì tụng Kinh Địa Tạng được hộ trì, thêm sức mạnh tâm linh bảo vệ đời người. 

  • Phẩm thứ mười hai: Thấy Nghe Được Lợi Ích 

  • Tóm tắt: Đức Phật phóng ánh hào quang muôn sắc từ đỉnh đầu và tuyên bố sắp tán thán lợi ích của Địa Tạng cho trời người (với ánh sáng như cầu, như mặt trời, ngọc, mây… hiện khắp pháp giới). Quán Thế Âm Bồ Tát đứng dậy cung kính nói: Địa Tạng có từ bi vĩ đại, cứu khổ vô lượng, “vô số ức” thế giới, Phật quá khứ đến vị lai đều xưng tán Ngài, nhưng lời ngợi ca vẫn chưa hết được. Ngài cầu Phật hãy tuyên giảng công đức không thể nghĩ bàn của Địa Tạng cho trời người nghe, khiến hết thảy tín tâm lễ lạy Ngài để hưởng phúc đức. Phật tán thán và hứa: Ngài Quan Âm có nhân duyên đặc biệt với chúng sinh Ta-bà, sẽ tuyên nói mọi lợi ích của Địa Tạng để mười phương chư Thiên, nhân loại đều sùng kính Ngài. 

  • Nhân vật, biểu tượng chính: Đức Phật Thích Ca, Địa Tạng Bồ Tát, Quan Âm Bồ Tát. 

  • Bài học: Khẳng định công đức vĩ đại và sự tán thán không ngớt của chư Phật Bồ Tát về Địa Tạng. Quán Âm động viên truyền bá pháp lạc cho mọi chúng sinh: nghe và chiêm ngưỡng Địa Tạng đem lại lợi ích lớn lao. Đây là lời khuyến tấn người đời thực hành lòng cung kính và tin tưởng nơi Địa Tạng Bồ Tát. 

  • Phẩm thứ mười ba: Dặn Dò Cứu Độ Nhơn Thiên 

  • Tóm tắt: Đức Phật phó thác toàn bộ cõi Ta-bà cho Địa Tạng Bồ Tát bằng cách xoa đầu. Ngài nhấn mạnh oai lực, từ bi, trí tuệ của Địa Tạng “không thể nghĩ bàn” và nói rằng dùng hết thời gian ngàn kiếp cũng không hết ca ngợi công đức của Địa Tạng. Đặc biệt, Phật giao lưu vô lượng kiếp (phát nguyện “Từ nay đến khi Ngài Di Lặc xuất hiện”) Địa Tạng phải cứu độ những kẻ “trong nhà lửa” (người chưa thoát tam đồ ba đường); tuyệt đối không để họ đọa lạc xuống ác đạo thêm một ngày một đêm. Tâm tính chúng sinh Ta-bà rất xao động, ít ai bền lòng, nên Ngài phải phân thân trăm nghìn ức để giáo hóa. Phật dặn: bất kỳ trời người thiện nam thiện nữ nào trong tương lai có một mảy phước (tựa sợi lông, giọt nước), Địa Tạng nên dùng thần lực hộ trì để họ được tu tập thượng thừa, không thối chuyển. Hễ ai lâm nạn phải đọa ác đạo: nếu nghe được danh hiệu một Phật, hay Niệm Bồ Tát, hoặc một câu kinh Đại Thừa, Địa Tạng phải hiện thân phá nát địa ngục, cứu họ thoát lên cõi Trời hưởng an vui vô thượng. Sau đó, Phật xướng kệ dặn Địa Tạng: “Đời nay đời sau chư Thiên Nhân, Ta ân cần dặn bảo ông, dùng đại thần thông quyền độ họ, đừng cho ác đạo đọa vào trong”. Địa Tạng khẳng định sẽ tận tâm làm tròn đại nguyện. 

  • Nhân vật, biểu tượng chính: Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, Địa Tạng Bồ Tát, (cuối phẩm còn có Bồ Tát tuân chỉ). 

  • Bài học: Phẩm cuối giao phó trọng trách cứu độ chúng sinh cho Địa Tạng. Thể hiện quyết tâm “kiếp kiếp Bồ Đề” của Ngài: đừng để ai phải đọa lạc dài lâu. Người nghe được dặn rằng: dù chỉ chút nhân lành nhỏ bé cũng phải nuôi dưỡng, và Địa Tạng dùng oai lực cứu kẻ hạ liệt (âm phủ) khi nghe danh Phật pháp. Diễn tả tình thương vô biên, khuyến khích con người chớ bỏ lỡ nhân duyên, nhất là khi gặp khó khổ nếu niệm Phật chắc chắn được cứu. 

Nguồn: Nội dung trên được trích dẫn và tổng hợp từ Kinh Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện. (Trích các đoạn nổi bật để đảm bảo tính chính xác nội dung.)